FAQs HÌNH ẢNH
Sau phẫu thuật nâng ngực, các biến chứng có thể gặp gồm tụ máu ngực, nhiễm trùng ngực, co thắt bao xơ, vỡ túi ngực, áp xe, ngực lệch không cân xứng và các bệnh lý liên quan đến túi ngực. Một số biến chứng có thể xuất hiện sớm sau phẫu thuật như tụ máu, nhiễm trùng, đau tức bất thường. Một số biến chứng khác có thể diễn tiến muộn hơn như bao xơ, vỡ túi, tụt túi, thông khe, cứng túi hoặc các bất thường liên quan đến pocket và túi ngực. Vì vậy, tái khám sau nâng ngực và kiểm tra bằng chẩn đoán hình ảnh khi cần là bước quan trọng để phát hiện, xử lý biến chứng sớm và muộn.
Tụ máu ngực thường xảy ra ngay sau phẫu thuật, liên quan đến quá trình cầm máu bên trong không tốt. Nếu lượng máu chảy ra ít, cơ thể có thể tự hấp thu. Nếu lượng máu lớn, cơ thể hấp thu không kịp sẽ gây tụ máu. Đây là biến chứng cần được theo dõi trong giai đoạn hậu phẫu sớm, đặc biệt khi vùng ngực có biểu hiện sưng đau bất thường hoặc không cải thiện theo thời gian.
Nhiễm trùng sau phẫu thuật thường xuất hiện từ ngày thứ 3 đến ngày thứ 7 sau mổ, một số trường hợp có thể phát hiện muộn hơn. Các dấu hiệu có thể gồm ăn không ngon, lạt miệng, sốt, đau vú, mẩn đỏ hoặc sưng tấy. Nếu dùng kháng sinh không kiểm soát được tình trạng nhiễm trùng, người bệnh có thể phải phẫu thuật lại để làm sạch, lấy mô bị nhiễm trùng, dẫn lưu dịch và lấy túi ngực ra khỏi cơ thể.
Nguy cơ nhiễm trùng có thể đến từ phòng mổ không đạt tiêu chuẩn vô trùng, dụng cụ phẫu thuật không được xử lý khử khuẩn kỹ, bác sĩ và kỹ thuật viên không thực hiện đúng quy định vệ sinh như rửa tay, thay găng, mặc áo vô trùng, lấy dụng cụ trong ca mổ hoặc vệ sinh vùng phẫu thuật không đúng quy trình. Lựa chọn bệnh viện đa khoa chuyên sâu và cơ sở phẫu thuật an toàn là yếu tố quan trọng.
Căng tức từ nhẹ đến trung bình trong khoảng 3–5 ngày đầu sau phẫu thuật và giảm dần có thể là phản ứng viêm tự nhiên của cơ thể. Tuy nhiên, nếu đau tức kéo dài, đau tăng dần theo thời gian, kèm sưng nề, da tấy đỏ, sốt, ớn lạnh hoặc ngực co cứng bất thường, người bệnh cần đến cơ sở y tế chuyên khoa để được khám, xét nghiệm và theo dõi. Những dấu hiệu này không nên tự xem là phản ứng bình thường sau mổ nếu không có đánh giá của bác sĩ.
Sau nâng ngực, kết quả chưa thể đánh giá chính xác ngay sau phẫu thuật vì đó chỉ là thành công bước đầu. Để có được form ngực như mong muốn, ngực cần thời gian 3–6 tháng để tái cấu trúc và cơ thể làm quen với sự thay đổi mới. Chụp cộng hưởng từ MRI với bộ coil chuyên sâu về vú giúp chẩn đoán tình trạng bệnh lý tuyến vú, bệnh lý liên quan đến túi ngực, tình trạng túi ngực, bao xơ, bao túi/pocket, phát hiện ung thư vú và các bất thường khác ở vú. Phương pháp này cũng phù hợp với nhóm phụ nữ có nguy cơ cao mắc ung thư vú, người có tiền sử gia đình mắc ung thư vú hoặc người có thay đổi gen ung thư vú do di truyền.
Khách hàng phẫu thuật nâng ngực cần kiểm tra lâm sàng tại các thời điểm sau phẫu thuật 1 tháng và 6 tháng. Sau phẫu thuật 3 năm cần kiểm tra bằng hình ảnh như siêu âm, chụp X-quang hoặc tốt nhất là chụp MRI tuyến vú, sau đó tiếp tục nhắc lại mỗi 2 năm. Ngoài các mốc này, người đã nâng ngực có thể thăm khám và trao đổi với bác sĩ phụ trách bất cứ lúc nào nếu có biểu hiện bất thường tại vùng ngực.
Trước khi tháo túi hoặc bóc bao xơ, MRI nhũ chuyên sâu giúp kiểm tra tình trạng tuyến vú, túi ngực, pocket, bao xơ và các bệnh lý liên quan đến túi và các u. Sau đó, bác sĩ kết hợp thăm khám lâm sàng để đánh giá các bất thường trong và ngoài pocket, xác định có vỡ túi, bao xơ, u hoặc tổn thương liên quan hay không, từ đó chọn phương án phẫu thuật phù hợp. Đồng thời, cũng có nhận định rằng MRI thông thường, siêu âm hoặc X-quang không mang lại hiệu quả với những trường hợp đặt túi ngực và vỡ túi ngực như MRI nhũ chuyên sâu.
Sau khi đặt túi ngực, cơ thể hình thành một lớp mô dạng sợi bao quanh túi, còn gọi là pocket. Thông thường lớp mô này mềm mại, đồng nhất với mô xung quanh và khó cảm nhận. Với trường hợp co thắt bao xơ, lớp mô này dày lên, hình thành các dải sợi xơ cứng quanh túi ngực. Tình trạng này có thể khiến ngực bị cứng một bên hoặc cả hai bên, đau, co rút, biến dạng hoặc mất cân xứng tùy mức độ.
Bao xơ có thể khiến bầu ngực bị khuyết vào hoặc phình ra ở một vị trí, độ nhô của bầu vú cao thấp khác nhau, chân bầu vú cao thấp khác nhau, khe vú rộng ra và không đều. Ở mức độ nặng, bao xơ có thể gây méo mó hình dạng cả bầu ngực. Với bao xơ độ 3 và 4, ngực có thể cứng ở tư thế đứng và nằm, biến dạng, co rút nhiều vùng khác nhau, đau âm ỉ hoặc đau khó chịu liên tục.
Co thắt bao xơ được chia thành 4 cấp độ. Độ 1: ngực vẫn mềm và trông bình thường, bao xơ có độ cứng nhẹ khi sờ ở tư thế nằm ngửa. Độ 2: ngực trông bình thường, không sưng đau, không biến dạng nhưng sờ thấy cứng hơn bình thường, đặc biệt ở tư thế nằm ngửa. Độ 3: ngực cứng, thay đổi hình dáng do co thắt, có thể đau âm ỉ liên tục và biến dạng bầu vú. Độ 4: bầu vú méo mó, xô lệch, mất cân xứng, bao xơ cứng nhiều, co thắt và gây đau khó chịu liên tục.
Bao xơ độ 1 và độ 2 khó nhận biết vì ngực vẫn có thể mềm hoặc trông bình thường, không có biểu hiện sưng đau hay biến dạng rõ. Một số trường hợp chỉ thấy cứng hơn bình thường khi sờ vào, đặc biệt ở tư thế nằm ngửa. Ngược lại, bao xơ độ 3 và độ 4 thường dễ nhận biết hơn qua lâm sàng do ngực cứng, đau, biến dạng, co rút hoặc mất cân xứng.
Co thắt bao xơ có thể xảy ra bất cứ lúc nào sau nâng ngực. Bao xơ có thể hình thành sớm trong giai đoạn 3–6 tháng, là thời gian hình thành và tổ chức hóa mô sẹo bên trong. Vì độ 1 và 2 khó nhận biết, nhiều trường hợp không phát hiện sớm, qua thời gian có thể tiến triển lên độ 3 hoặc độ 4.
Trong 3 tháng đầu sau phẫu thuật, cần theo dõi các dấu hiệu như đau nhiều, đau kéo dài, sưng bầm nhiều và kéo dài, kích thước ngực to bất thường hoặc không đồng đều, nhiễm trùng tại chỗ, đau kéo dài, tụ dịch, vết mổ viêm đỏ, chảy dịch, người mệt mỏi, ăn uống không ngon miệng, sốt nhẹ hoặc sốt cao. Nếu phải sử dụng thuốc kháng sinh kéo dài trên 2 tuần hoặc ngực không mềm mại theo thời gian, cần theo dõi kỹ hơn diễn tiến lành thương, các bất thường và trao đổi với bác sĩ phẫu thuật. Giai đoạn này không nên phẫu thuật bóc bao xơ vì vết thương bên trong chưa lành.
Giai đoạn 3–6 tháng, bao xơ độ 1 và độ 2 rất khó nhận biết. Khi sờ vào ngực tại vị trí cực dưới, bên trong và bên ngoài ở tư thế đứng và nằm, nếu cảm nhận cứng tại một vài điểm nào đó thì cần lưu ý. Sau 6 tháng, pocket đã hình thành ổn định hơn. Người đã nâng ngực có thể tự kiểm tra sự cân xứng của ngực ở cực trên và dưới, cực trong và ngoài, đầu ti hai bên, độ mềm của ngực theo thời gian, các bất thường khác và theo dõi quá trình hình thành bao xơ nếu có.
Các nguyên nhân có thể bao gồm khoang đặt túi hẹp so với kích thước túi, chọn túi ngực quá lớn so với cấu trúc giải phẫu, bác sĩ thiết kế sai kích thước khoang đặt túi hoặc khoang không đúng với cấu trúc lồng ngực. Khi túi không được trải đều trong khoang, bị chèn ép bởi cơ và mô sợi, túi có thể chịu áp lực, co rút, làm tăng nguy cơ bao xơ. Ngoài ra, tổn thương trong quá trình tạo khoang, phẫu thuật thô bạo, đau nhiều sau mổ, tụ máu, dịch tiết nhiều và lành thương chậm cũng được nhắc đến như các yếu tố liên quan đến biến chứng muộn như bao xơ.
Khi khoang đặt túi hẹp so với kích thước túi ngực, túi không được trải đều trong khoang và có thể bị chèn ép bởi cơ cùng các mô sợi bên trong. Theo thời gian, nếp gấp vỏ túi tại các điểm bị ép có thể lão hóa nhanh hơn, làm tăng nguy cơ vỡ túi ngực sớm. Túi ngực thường được đặt dưới cơ ngực lớn hoặc giữa hai mặt phẳng cơ ngực. Trong phẫu thuật, thuốc giãn cơ làm cơ giãn hoàn toàn. Nếu tạo khoang vừa đủ với kích thước túi khi cơ đang giãn, sau khi thoát mê cơ siết lại, khoang có thể hẹp hơn so với kích thước túi.
Khoang đặt túi cần đủ kích thước để túi trải đều. Nếu khoang không đủ rộng, túi có thể bị gấp, bị kẹt tại các vùng chưa được giải phóng hoặc chịu lực không đều từ cơ và mô sợi bên trong. Một số trường hợp khoang thiếu ở bờ ngoài, cực dưới ngoài hoặc bờ trong khiến túi không nằm đúng vị trí. Khi áp lực trong khoang tác động không đều, túi có thể bị gấp nếp, chèn ép và giảm tuổi thọ theo thời gian.
Khoang đặt túi hẹp hoặc khoang tạo không đủ có thể liên quan đến vỡ túi ngực sớm. Khi túi không trải đều trong khoang, các nếp gấp vỏ túi tại điểm bị ép có thể lão hóa nhanh hơn. Trường hợp khoang thiếu, đặt túi quá to, vị trí túi không đúng, áp lực từ cơ ngực chưa được giải phóng hoặc có bao xơ đều có thể làm tăng nguy cơ vỡ túi sớm. Một số trường hợp vỡ túi sớm được ghi nhận ở người có chân ngực ngắn. Khoang đặt túi thường được tạo rộng ở cực trên, khiến phần lớn túi nằm lệch về phía cực trên và chịu áp lực từ cơ ngực lớn, nhất là khi nằm, vận động hoặc tập luyện.
Bóc bao xơ được cân nhắc trong những trường hợp co thắt bao xơ nặng, ngực cứng đau, biến dạng, co rút hoặc ảnh hưởng hình dáng bầu ngực. Với các trường hợp này, bác sĩ có thể chỉ định tháo túi, bóc bao xơ toàn phần hoặc bán phần, làm sạch khoang đặt túi, lấy mô xơ làm giải phẫu bệnh và đánh giá có đặt lại túi mới hay không. Với trường hợp bao xơ đôi hoặc bóc tách khó, thời gian phẫu thuật có thể kéo dài vì bác sĩ cần tạo hình lại khoang đặt túi mới.
Trước khi bóc bao xơ, người bệnh cần chụp MRI nhũ chuyên sâu để kiểm tra tình trạng bệnh lý tuyến vú, bao xơ, pocket, các bệnh liên quan đến túi ngực và các u. Sau đó, bác sĩ kết hợp thăm khám lâm sàng để đánh giá tình trạng bao xơ, những bất thường trong và ngoài pocket, từ đó chọn phương pháp phẫu thuật phù hợp. MRI nhũ chuyên sâu có vai trò quan trọng trong những trường hợp đặt túi ngực, nghi ngờ vỡ túi hoặc có bất thường liên quan đến túi ngực.
Trong phẫu thuật, bác sĩ có thể rạch da khoảng 3–3,5 cm tại đường quầng vú hoặc chân ngực nếu không có bất thường, dùng dao siêu âm cắt mô đi vào bên trong, lấy túi ngực cũ và kiểm tra thương hiệu, kích thước, size túi, độ nhô. Sau đó, bác sĩ sử dụng dao siêu âm bóc bao xơ và lấy mô xơ làm giải phẫu bệnh để kiểm tra mô xơ lành tính hay ác tính. Nếu nghi ngờ ác tính, cần chuẩn bị phương án sinh thiết lạnh. Với trường hợp có chỉ định đặt lại túi mới, bác sĩ sẽ tạo hình lại khoang đặt túi.
Việc đặt lại túi mới sau bóc bao xơ cần theo chỉ định của bác sĩ. Nếu có bất thường trong pocket, có u, bao xơ nặng, túi vỡ hoặc tổn thương đi kèm, bác sĩ cần đánh giá kỹ trước khi quyết định có đặt lại túi mới hay không. Nếu đặt lại túi mới, bác sĩ cần đánh giá độ rộng – hẹp của khoang cũ, tình trạng khoang rộng cần khâu khoang hay khoang thiếu cần tạo hình khoang mới, đồng thời kiểm tra kích thước, độ nhô túi cũ, tình trạng pocket sau tháo túi và cấu trúc xương lồng ngực hiện tại.
Với những ca có bóc bao xơ, tạo lại khoang đặt túi, túi vỡ hoặc có tổn thương bất thường bên trong, thời gian gây mê có thể dài hơn ca tháo túi thông thường. Trường hợp tháo túi có bất thường như bóc bao xơ hoặc tổn thương nhiều bên trong có thể cần dẫn lưu và nghỉ tại bệnh viện một đêm.
Giả bao xơ là tình trạng ngực cứng sau nâng ngực nhưng nguyên nhân khác với co thắt bao xơ thật sự. Người nâng ngực có thể thấy ngực cứng khi sờ nắn ở tư thế đứng và tư thế nằm, dễ nhầm với bao xơ nếu không được thăm khám và đánh giá đúng nguyên nhân. Giả bao xơ thường liên quan đến việc lựa chọn túi ngực không phù hợp hoặc tạo khoang đặt túi không chính xác. Tình trạng này có thể xuất hiện sớm sau phẫu thuật, khiến túi bị bó, siết trong khoang và ngực không mềm theo thời gian.
Nguyên nhân chính gây giả bao xơ là chọn túi ngực không phù hợp và tạo khoang đặt túi không chính xác. Túi có thể không phù hợp về đường kính, độ nhô, độ căng của gel, độ mềm mại hoặc áp lực trong khoang. Với người có cấu trúc giải phẫu bất thường như lồng ngực lồi, lõm, gồ; da mỏng; mô tuyến ít; hoặc mô che phủ túi quá mỏng, việc chọn túi không phù hợp có thể gây lộ túi, túi cứng, sờ thấy gợn sóng ở vùng viền khoang. Nếu khoang đặt túi có đường kính nhỏ hơn túi, quá lớn so với túi hoặc tạo sai vị trí, túi không trải đều ở cực trên, dưới, trong, ngoài và tạo áp lực lên túi. Đây là một trong những nguyên nhân gây giả bao xơ ngay sau phẫu thuật.
Dấu hiệu nhận biết giả bao xơ gồm ngực cứng ngay sau phẫu thuật, ngực không mềm theo thời gian, ngực cứng hơn so với trước khi đặt túi hoặc túi có cảm giác bị bó, siết. Với những trường hợp đặt túi thông thường, độ mềm của túi và hình dạng ngực sẽ thay đổi trong 6 tháng đầu. Nếu ngực không mềm sau 6 tháng, cần đến bác sĩ chuyên khoa bệnh lý và thẩm mỹ vùng ngực để thăm khám, kiểm tra. Một số dấu hiệu vị trí túi không phù hợp gồm túi nằm phần lớn trên đầu nhũ hoa, tụt túi, giả thông khe, đổ ngoài nách hoặc đầu nhũ hoa không nằm tại trung tâm bầu ngực.
Giả bao xơ và co thắt bao xơ nếu kéo dài đều có thể dẫn đến vỡ túi ngực sớm tại các vị trí nếp gấp túi bị lão hóa do áp lực trong khoang. Túi không phù hợp hoặc khoang đặt túi sai cũng có thể ảnh hưởng thẩm mỹ và cảm giác, khiến ngực cứng, túi chạy trong khoang, túi lật hoặc nằm sai vị trí. Một số trường hợp mô tuyến vú xơ chai do cơ địa, quá trình cho bé bú hoặc hút sữa nhiều thì sau khi đặt túi cũng không cải thiện được độ mềm mại của mô sẵn có.
Để hạn chế giả bao xơ, cần chọn size túi phù hợp với cấu trúc giải phẫu, tránh chọn túi quá to, độ nhô quá cao hoặc túi không đủ mềm mại với những trường hợp có cấu trúc giải phẫu bất thường. Kỹ thuật tạo khoang cũng cần chính xác, tránh tạo khoang quá nhỏ, quá lớn hoặc sai vị trí. Kỹ thuật phẫu tích điểm bằng dao siêu âm thế hệ mới giúp bác sĩ quan sát mô cần bóc tách, hạn chế chảy máu, chấn thương mô, tiết dịch nhiều và khó khăn trong tạo hình khoang, từ đó hỗ trợ hạn chế nguy cơ giả bao xơ so với phẫu tích mù bằng tay và dao đốt điện thường.
Vỡ túi ngực, đặc biệt là túi gel, thường không dễ phát hiện ngay vì phần lớn trường hợp không có triệu chứng rõ, còn gọi là vỡ túi âm thầm. Với túi gel, dù túi bị rách, hình dạng túi vẫn có thể ổn định nên người đặt túi khó nhận ra ngay. Chụp MRI với bộ coil chuyên sâu về vú là phương pháp giúp phát hiện tình trạng túi đã bị vỡ.
Một số dấu hiệu nhận biết túi ngực bị vỡ gồm bầu ngực đau, sưng to, xẹp bất thường, hình dạng ngực thay đổi, kích thước vú giảm, hai bên ngực không đồng đều, đau hoặc căng. Với túi nước biển, ngực có thể xẹp nhanh khi túi vỡ nên dễ phát hiện hơn. Với túi gel, tình trạng vỡ khó nhận ra ngay hơn vì cấu trúc gel ổn định, không rò rỉ rõ ra bên ngoài trong giai đoạn đầu.
Vỡ túi ngực có thể xảy ra trong vòng 1–3 tháng đầu, khi “túi bảo vệ” chưa hình thành hoàn toàn. Nguyên nhân có thể do túi bị tổn thương trong quá trình phẫu thuật. Vỡ túi cũng có thể xảy ra sau khi ngực đã hình thành pocket ổn định, thường liên quan đến túi nước biển hoặc túi của các thương hiệu không đạt chứng nhận an toàn từ các tổ chức khoa học và y khoa trong thời gian dài. Ngoài ra, túi có thể bị vỡ do lão hóa sau hơn 10 năm, bị gấp nếp vì khoang đặt túi không đủ, co thắt bao xơ tạo áp lực lên túi hoặc thao tác phẫu thuật thô bạo làm tổn thương vỏ túi.
Vỡ túi ngực sớm có thể liên quan đến đặt túi quá lớn so với cấu trúc giải phẫu cơ thể, khoang đặt túi tạo không đủ, túi không thể trải đều trong khoang hoặc thao tác điều chỉnh khoang sau khi túi đã được đặt vào gây tổn thương cơ học lên túi. Trong đặt túi qua đường chân ngực hoặc quanh quầng vú, đường mổ quá nhỏ khi đưa túi có đường kính và độ nhô lớn có thể gây tổn thương túi trong quá trình đưa vào, làm giảm tuổi thọ túi theo thời gian. Một số trường hợp vỡ túi sớm liên quan đến khoang thiếu, túi nằm không đúng vị trí, áp lực từ cơ ngực chưa được giải phóng, bao xơ hoặc cấu trúc chân ngực ngắn. Khi túi phải chịu áp lực không đồng đều, vùng vỏ túi bị gấp nếp có thể lão hóa nhanh hơn và tăng nguy cơ tổn thương túi.
Khi nghi ngờ vỡ túi, người đã nâng ngực cần kiểm tra bằng MRI nhũ chuyên sâu để đánh giá tuyến vú, túi ngực, bao xơ, pocket và các bất thường liên quan. Nếu túi vỡ hoặc có dịch bất thường, trong quá trình phẫu thuật cần vệ sinh khoang đặt túi, cấy dịch và làm kháng sinh đồ khi dịch có màu đục. Một số trường hợp túi ngực vỡ có bất thường trong pocket, u, bao xơ hoặc tổn thương đi kèm cần được đánh giá kỹ trước khi quyết định có đặt lại túi mới hay không.
Thông khe là biến chứng sau nâng ngực khi khoảng cách tự nhiên giữa hai bầu ngực bị mất, bờ trong hai bầu ngực đẩy sát vào nhau và che phần xương ức ở giữa. Tình trạng này có thể nhận biết qua hình ảnh hoặc khám lâm sàng; ở tư thế nhìn xuống có thể thấy rõ hai bầu ngực như thông vào nhau. Biến chứng này có thể xuất hiện sớm từ sau khi đặt túi và nếu kéo dài có thể ảnh hưởng thẩm mỹ, khó chỉnh sửa hơn.
Nguyên nhân gây thông khe sau nâng ngực gồm tạo khoang quá rộng về phía xương ức để đặt hai túi sát nhau, khoang không đủ phía ngoài, cắt cơ quá nhiều phía trong, túi có thể tích lớn không phù hợp với khoang tạo ra, sai chỉ định giải phẫu hoặc mặc sai áo định hình trong 6–8 tuần đầu. Người có cấu trúc lồng ngực lõm có nguy cơ thông khe cao hơn nếu tạo khoang quá sát với mục đích tạo khe ngực hoặc khoang quá rộng so với túi, khiến túi gây áp lực vào cực trong và dẫn đến thông khe theo thời gian.
Tụt túi là tình trạng túi ngực dịch chuyển xuống dưới nếp lằn dưới vú hoặc nằm dưới đầu ti. Dấu hiệu có thể gồm núm vú cao bất thường hoặc hướng lên trên, cực trên ngực ngày càng xẹp, cực dưới đầy hơn, chiều dài cực dưới dài hơn cực trên gây mất cân xứng bầu ngực. Một số trường hợp chỉ nhận thấy khi ngực chảy nhiều về bụng, dễ nhầm với ngực sa trễ nếu không theo dõi từ sau khi đặt túi.
Túi ngực có thể bị tụt hoặc nằm sai vị trí do đặt size túi lớn tạo áp lực xuống cực dưới, kỹ thuật tạo khoang không chính xác, vị trí đặt sai mặt phẳng hoặc cực dưới khoang đặt túi không được tạo hình đúng. Khi khoang sai vị trí hoặc không phù hợp với túi, túi có thể nằm phần lớn trên đầu nhũ hoa, phần lớn dưới đầu nhũ hoa, phần lớn cực trong, phần lớn cực ngoài hoặc đầu nhũ hoa không nằm tại trung tâm túi bầu ngực. Đây là những dấu hiệu cho thấy vị trí túi và khoang cần được bác sĩ đánh giá lại.
Người đã đặt túi ngực nhám trên 5 năm, đặc biệt là túi Allergan, túi nhám sản xuất theo cơ chế đông muối, túi không rõ nguồn gốc hoặc túi không đạt chứng nhận an toàn từ các tổ chức khoa học và y khoa, cần kiểm tra bệnh lý tuyến vú, tình trạng túi, pocket và các bệnh lý liên quan đến túi ngực. Việc kiểm tra cần kết hợp thăm khám lâm sàng và MRI nhũ chuyên sâu, nhất là khi có dấu hiệu bất thường tại vùng ngực.
BIA-ALCL là một dạng ung thư hiếm gặp liên quan đến túi ngực, nhưng không phải ung thư vú mà là ung thư của hệ thống miễn dịch. Ngoài BIA-ALCL, cảnh báo của FDA còn đề cập đến ung thư biểu mô tế bào vảy và các u lympho khác trong mô sẹo hoặc vỏ bao xơ hình thành xung quanh túi ngực. Nếu sau thăm khám lâm sàng và chụp MRI nhũ chuyên sâu có tổn thương bất thường nghi ALCL, có chỉ định tháo bỏ túi ngực ngay. Nếu MRI không có bất thường thì theo dõi định kỳ.
Qua nhiều ca tháo túi nước biển, có thể ghi nhận hiện tượng vôi hóa ở vỏ túi ngực. Một số trường hợp ngực biến dạng, bao xơ co thắt độ 3–4 được phát hiện trong quá trình tháo túi nước biển. Người đã đặt túi nước biển nên chụp MRI nhũ chuyên sâu, thăm khám khi có bất thường và theo dõi định kỳ.
Có trường hợp nâng ngực trên 20 năm nhưng túi vẫn nguyên vẹn, không vỡ, không bao xơ. Kết quả này liên quan đến chất lượng túi, kỹ thuật đặt túi, kỹ thuật tạo khoang, thao tác phẫu thuật và quá trình theo dõi sau nâng ngực. Khi khoang đặt túi được tạo đúng, túi không bị chèn ép bất thường, pocket ổn định và không hình thành bao xơ nặng, nguy cơ biến chứng có thể thấp hơn theo thời gian.
Kỹ thuật tạo khoang ảnh hưởng trực tiếp đến vị trí túi, áp lực trong khoang và độ bền của túi sau nhiều năm. Nếu khoang đủ rộng, túi có không gian trải đều và không bị chèn ép bất thường. Nếu khoang chật hoặc không đều, túi có thể bị gấp nếp, chịu áp lực kéo dài, lão hóa nhanh tại các nếp gấp và tăng nguy cơ vỡ túi. Có trường hợp cùng thời gian đặt túi, cùng size túi và cùng phương pháp, nhưng một bên túi vẫn nguyên vẹn, bên còn lại vỡ hoặc bao xơ. Sự khác biệt có thể liên quan đến kỹ thuật tạo khoang hai bên không giống nhau: một bên khoang đủ rộng, bên còn lại khoang chật và tạo áp lực lên túi. Với túi nước biển, còn có thể gặp tình trạng rò van, túi bị lật trong khoang, khoang hẹp ở cực dưới hoặc bờ ngoài, cần chỉnh lại khoang khi đặt túi mới.
Không phải mọi trường hợp túi ngực đặt lâu năm đều bắt buộc phải thay. Điều quan trọng là kiểm tra định kỳ, đánh giá tình trạng túi, tuyến vú, pocket, bao xơ, thương hiệu túi, loại túi, thời gian đặt túi và các dấu hiệu bất thường. Với túi nhám, túi không rõ nguồn gốc, túi nước biển, túi vỡ, bao xơ, tụt túi, thông khe, lộ túi hoặc túi quá lớn so với cơ thể, người bệnh cần được bác sĩ thăm khám và tư vấn hướng xử lý phù hợp.
Dao siêu âm Harmonic, InnoLcon, Ligasure, Enseal có thể được sử dụng trong phẫu thuật nâng ngực và tháo túi. Trong nâng ngực, bước đầu tiên có thể dùng dao thường để rạch lớp da ở quầng vú hoặc chân ngực; bước tiếp theo dùng dao siêu âm đơn cực Harmonic hoặc InnoLcon để tạo khoang đặt túi, cắt mô và tuyến. Dao siêu âm lưỡng cực Ligasure hoặc Enseal có vai trò quan trọng trong cắt cơ tạo khoang. Dao siêu âm hoạt động theo cơ chế đốt – hàn – cắt, giúp cắt và hàn mô cùng lúc, kiểm soát chảy máu, hạn chế tiết dịch và hỗ trợ bóc tách chính xác khi tạo khoang.
Dao siêu âm hỗ trợ cầm máu, hạn chế tổn thương mô, giảm sang chấn mô, giảm tiết dịch, tạo phẫu trường sạch và khô. Khi phẫu trường ít chảy máu, ít tiết dịch, bác sĩ có thể quan sát mô rõ hơn trong quá trình bóc tách và tạo khoang đặt túi. Trong nâng ngực, dao siêu âm thế hệ mới còn hỗ trợ kỹ thuật phẫu tích điểm chính xác, giúp bác sĩ bóc tách, giải phóng mô và kiểm soát khoang đặt túi tốt hơn. Nhờ hạn chế chảy máu, tiết dịch và tổn thương mô, quá trình hồi phục sau mổ có thể nhanh hơn, giảm đau sau mổ, xuất viện trong ngày và hạn chế dùng thêm thuốc giảm đau hoặc kháng sinh sau mổ đối với những trường hợp nâng ngực thông thường. Dao siêu âm thế hệ mới được ứng dụng trong phẫu thuật nâng ngực, tháo túi ngực, xử lý bao xơ, xử lý túi vỡ và tạo hình lại khoang đặt túi.
Quá trình nâng ngực bằng phương pháp phẫu tích mù kết hợp cầm máu bằng dao đốt điện dễ dẫn đến nguy cơ chảy máu cao, tổn thương – xơ chai mô, tiết dịch nhiều trong khoang ngực và có thể cần dẫn lưu sau mổ. Trong khi đó, Dao siêu âm thế hệ mới Ultrasonic Surgical Scalpel hoạt động theo cơ chế đốt – hàn – cắt, sử dụng sóng siêu âm và hệ thống cảnh báo tự động để tạo nhiệt lượng ổn định, kiểm soát chảy máu, hạn chế tiết dịch, ít lan truyền nhiệt, giảm tổn thương mô và hỗ trợ quá trình lành thương sau phẫu thuật.
Nếu bác sĩ sử dụng dao siêu âm không có nhiều kinh nghiệm, sóng âm có thể làm nhiệt độ mô tăng cao, khiến nguyên bào sợi bị tổn thương hoặc chết. Nhiệt độ cao cũng có thể làm tổn thương tế bào mỡ, dẫn đến tiêu mỡ. Việc sử dụng dao siêu âm đòi hỏi bác sĩ có chuyên môn, được đào tạo kỹ lưỡng, đạt đủ số ca thực hiện trực tiếp và vượt qua “learning curve” để sử dụng thành thạo.
Khoang đặt túi cần phù hợp với kích thước túi và cấu trúc lồng ngực. Nếu khoang đặt túi hẹp so với kích thước túi, túi ngực không được trải đều trong khoang, bị chèn ép bởi cơ và các mô sợi bên trong. Khi đó, nếp gấp vỏ túi tại các điểm bị ép có thể lão hóa nhanh hơn theo thời gian, làm tăng nguy cơ vỡ túi ngực sớm. Túi thường được đặt dưới cơ ngực lớn hoặc giữa hai mặt phẳng cơ ngực theo kỹ thuật dual-plane. Trong phẫu thuật, thuốc giãn cơ được sử dụng để cơ giãn hoàn toàn. Nếu tạo khoang vừa đủ với kích thước túi, sau khi thoát mê cơ siết lại, khoang có thể hẹp so với kích thước túi nếu bác sĩ không đủ kinh nghiệm đánh giá.
Phẫu tích điểm là kỹ thuật bóc tách, giải phóng mô và tạo khoang đặt túi dưới quan sát trực tiếp bằng mắt thường hoặc qua hệ thống màn hình nội soi. Khi kết hợp với dao siêu âm Harmonic, InnoLcon hoặc Ultrasonic Surgical Scalpel thế hệ mới, kỹ thuật này giúp kiểm soát cầm máu, hạn chế tiết dịch và tạo khoang đặt túi chính xác hơn. Phẫu tích điểm được xem là phương pháp ít xâm lấn, hỗ trợ tạo khoang đặt túi đúng kích thước và hình dáng, từ đó giảm nguy cơ biến chứng.
Tạo hình đường mổ, khoang túi phù hợp và phẫu tích điểm bằng dao siêu âm thế hệ mới là các yếu tố quan trọng để bầu ngực sau nâng mềm mại tự nhiên và lâu bền. Kỹ thuật này giúp bác sĩ kiểm soát cầm máu, hạn chế tiết dịch gần như hoàn toàn và đạt độ chính xác cao trong quá trình tạo khoang đặt túi. Khi tạo khoang đúng kích thước, túi ngực có không gian để trải đều, hạn chế tình trạng bị chèn ép, gấp nếp, chạy khoang hoặc chịu áp lực không đều trong khoang đặt túi.
Phẫu tích điểm được thực hiện dưới quan sát trực tiếp bằng mắt thường hoặc qua màn hình nội soi, kết hợp dao siêu âm để bóc tách, giải phóng mô và cầm máu. Kỹ thuật này giúp tạo khoang thuận lợi hơn, đặc biệt ở vùng cần chuyển mặt phẳng hoặc tạo hình cực dưới bầu ngực. Phẫu tích mù sử dụng dụng cụ để bóc tách khoang nhưng không kiểm soát đồng đều mặt cắt ở các vùng bờ ngoài và cực dưới ngoài. Cơ có thể không được cắt chính xác quanh viền túi, dễ tổn thương bởi dụng cụ, chảy máu, tụ dịch nhiều và hình thành các dải xơ chai.
Với phương pháp nâng ngực phẫu tích mù, cơ hầu như không được cắt chính xác ở vị trí viền quanh túi. Cơ có thể bị đứt, tổn thương bởi dụng cụ và chỉ giãn tạm thời. Quá trình phẫu thuật có thể gây chảy máu, tụ dịch nhiều, cơ thể không hấp thu hoàn toàn, ảnh hưởng quá trình hình thành pocket và tạo ra những dải xơ chai. Những vị trí thấp trong khoang có thể đọng máu, tạo tụ máu và cục máu đông. Sau quá trình tổ chức hóa, các vùng này không được hấp thu hoàn toàn, tạo nên vùng xơ, dải xơ gây co rút tại chỗ, co kéo vùng lân cận, làm khoang đặt túi hẹp và chèn ép lên túi. Trong khoang đặt túi luôn có áp lực. Dịch máu tụ lâu ngày có thể tạo thành vệt theo lực tác động, qua thời gian tạo thành dải xơ co kéo và nếp gấp. Dao đốt điện không kiểm soát được nhiệt lượng cũng có thể tạo nên mô xơ kéo dài trong quá trình lành thương, gây co rút.
Dual Plane là kỹ thuật đặt túi ngực giữa hai mặt phẳng cơ ngực. Kỹ thuật này giúp định vị lại phần cực dưới bầu ngực, cho phép túi độn trải đều để tạo bầu ngực tròn trịa, mềm mại. Túi ngực được bao phủ gần toàn bộ bởi cơ sẽ không tự nhiên. Do mỗi người có độ phủ cơ ngực dày – mỏng, ngắn – dài khác nhau, bác sĩ cần đánh giá cấu trúc giải phẫu và chọn kỹ thuật Dual Plane phù hợp.
Có 3 kỹ thuật Dual Plane. Dual Plane I phù hợp với người ngực lép, mô và tuyến vú ít. Túi ngực nằm ở hai mặt phẳng, khoảng 2/3 túi được cơ bao phủ phần bên trên, bác sĩ dùng dao siêu âm cắt cơ khoảng hơn 1/3 để túi nằm ở cực dưới theo vị trí xác định. Dual Plane II phù hợp với người muốn cải thiện hình dạng, kích thước ngực và giải quyết sa trễ độ 1,2. Túi ngực được bao phủ bên trên khoảng 65% là cơ, 35% bên dưới là mô tuyến. Dual Plane III giải phóng mô vú cao hơn đến ngang mức núm vú, cho phép túi ngực trải rộng phần dưới của vú nhiều hơn. Túi được bao phủ bên trên khoảng 50% là cơ, 50% bên dưới là mô tuyến.
Kỹ thuật Dual Plane I, II hay III phụ thuộc vào chỉ định của bác sĩ thực hiện, không phải do khách hàng tự lựa chọn. Mỗi khách hàng có tình trạng khác nhau, bác sĩ cần thăm khám và chỉ định thể tích túi, form túi, vị trí đường mổ, phương pháp phẫu thuật và kỹ thuật Dual Plane phù hợp.
Harmo-5K là phương pháp sử dụng dao siêu âm thế hệ mới kết hợp kỹ thuật phẫu tích điểm trong quá trình bóc tách, giải phóng mô. Quá trình phẫu tích được thực hiện bằng quan sát trực tiếp mắt thường hoặc qua hệ thống màn hình nội soi, giúp kiểm soát cầm máu, hạn chế tiết dịch với mức độ chính xác cao khi tạo khoang đặt túi. Harmo-5K hướng đến các tiêu chí: hạn chế đau, chảy máu, chảy dịch, không cần uống thuốc và không cần nghỉ dưỡng.
Sau hơn 10 năm ứng dụng dao siêu âm trong phẫu thuật nâng ngực, tháo – đặt lại túi ngực và tạo hình thành bụng, năm 2021 ThS.BS Hồ Cao Vũ gửi đơn xin độc quyền nhãn hiệu “Harmo 5K”. Đến ngày 25/1/2024, nhãn hiệu Harmo 5K được cấp thông báo sở hữu độc quyền thương hiệu.
Trong nâng ngực, Harmo-5K sử dụng dao siêu âm kết hợp kỹ thuật phẫu tích điểm để bóc tách, giải phóng mô, cầm máu và tạo khoang đặt túi. Phương pháp này giúp kiểm soát cầm máu, hạn chế tiết dịch gần như hoàn toàn và tạo khoang đặt túi với độ chính xác cao. Sau phẫu thuật, tốc độ lành thương và tổ chức hóa mô sợi diễn ra nhanh, hạn chế biến chứng, không uống thuốc giảm đau hay kháng sinh sau mổ.
Túi ngực cần đạt chứng nhận an toàn từ các tổ chức khoa học và y khoa uy tín, vỏ túi làm từ chất dẻo đàn hồi cấp y tế, được kiểm tra về độ bền, khả năng phục hồi và độ đàn hồi. Tính an toàn và hiệu quả của túi cần được chứng minh qua nghiên cứu khoa học chuẩn y khoa, có theo dõi bệnh nhân tối thiểu 10 năm. Ngoài yếu tố chất lượng túi, bác sĩ cần thăm khám tình trạng ngực, lắng nghe mong muốn của khách hàng và chọn phương án phù hợp với từng dáng ngực, mô tuyến, cấu trúc lồng ngực và độ co giãn da.
Mỗi người có cấu trúc giải phẫu khác nhau nên size túi cần phù hợp với mô tuyến vú, khung lồng ngực, độ co giãn da và khoang đặt túi. Nếu chọn túi quá lớn so với cấu trúc cơ thể, túi có thể bị bó trong khoang, tạo áp lực lên túi và làm ngực cứng ngay sau phẫu thuật. Việc đặt túi quá lớn vào khoang hẹp giống như bơm khí quá căng vào một quả bóng có thể tích cố định: khi sờ vào sẽ thấy phản lực và cảm giác cứng. Qua thời gian, tình trạng túi bị bó có thể dẫn đến giả bao xơ, co thắt bao xơ hoặc vỡ túi ở các nếp gấp do túi bị chèn ép.
Chọn size túi không phù hợp có thể dẫn đến thông khe, tụt túi, giả bao xơ, co thắt bao xơ hoặc vỡ túi sớm. Với thông khe, nguy cơ tăng lên khi túi quá lớn, khoang đặt túi tạo quá sát vào cực trong hoặc khoang quá rộng so với túi. Người có lồng ngực lõm có nguy cơ thông khe cao hơn nếu cố tạo khe ngực bằng cách tạo khoang quá sát. Với tụt túi, túi có thể dịch chuyển xuống dưới nếp lằn dưới vú hoặc nằm dưới đầu ti. Dấu hiệu gồm núm vú cao bất thường, cực trên ngực xẹp, cực dưới đầy, chiều dài cực dưới dài hơn cực trên. Với giả bao xơ hoặc co thắt bao xơ, túi bị bó trong khoang tạo áp lực lên túi, khiến ngực cứng ngay sau phẫu thuật hoặc cứng dần theo thời gian.
Độ mềm mại sau đặt túi thường ổn định sau hơn 6 tháng, khi các tổ chức bên trong đã ổn định hoàn toàn. Trong 1 tháng đầu, các yếu tố cần theo dõi gồm chân ngực đều, vết mổ khô ráo, lành thương tốt và không có nguy cơ biến chứng ngay sau mổ. Từ 2–3 tháng, túi đổ xuống cực dưới, cân xứng trên – dưới, trong – ngoài và ngực mềm dần theo từng tháng. Từ tháng thứ 4 đến 6, các tổ chức ổn định và ngực vào form. Sau 6–12 tháng, vòng một đạt độ mềm ổn định và gần như không thay đổi.
Độ mềm sau nâng ngực phụ thuộc vào phương pháp phẫu thuật, kỹ thuật tạo khoang, thương hiệu túi ngực, độ mềm mại và đàn hồi của da, mô mềm quanh pocket, mô liên kết mỡ, mô tuyến vú, mô cân mạc cơ ngực lớn. Pocket sau khi hình thành cần mềm mại, đàn hồi và giãn nở đồng nhất với túi. Kích thước khoang cần tương đồng với thể tích túi: khoang quá chật có thể gây cứng túi do giả bao xơ, còn khoang quá rộng có thể làm túi nằm sai vị trí, chạy hoặc lật trong khoang. Chất liệu túi, độ dày vỏ túi, gel bên trong và độ nhô cũng ảnh hưởng đến cảm giác mềm mại sau đặt túi.
Nếu trong 6 tháng đầu, ngực mềm dần theo từng tháng thì không nhất thiết phải lo lắng. Nhưng nếu ngực cứng ngay sau phẫu thuật, không mềm theo thời gian, cứng hơn so với trước hoặc sau 6 tháng vẫn không mềm, cần đến bác sĩ chuyên khoa bệnh lý và thẩm mỹ vùng ngực để thăm khám, kiểm tra. Sau khi bỏ áo định hình, người bệnh cũng cần theo dõi độ mềm của bầu ngực để phát hiện bất thường hoặc biến chứng muộn như giả bao xơ, co thắt bao xơ.
Sau ca mổ sử dụng dao siêu âm, người bệnh có thể không cần dùng thêm thuốc giảm đau hoặc kháng sinh. Một số trường hợp đặc biệt bác sĩ có thể chỉ định dùng kháng sinh từ 1–3 ngày. Điều này đặt trong bối cảnh ca mổ sạch, hạn chế tổn thương bên trong khoang ngực, ít chảy máu, ít chảy dịch và không làm tổn thương mô, tuyến, cơ nhiều. Việc có dùng kháng sinh hay không vẫn cần dựa vào chỉ định của bác sĩ và tình trạng cụ thể của từng ca.
Một số trường hợp sau nâng ngực vẫn có thể cần dùng kháng sinh, chẳng hạn khách hàng nước ngoài về thay đổi môi trường sống, cơ thể chưa thích nghi; khách hàng về ngay trong ngày; có nhu cầu di chuyển nhiều sau mổ; hoặc môi trường xung quanh không đảm bảo vệ sinh. Khi đó, bác sĩ có thể chỉ định kháng sinh trong vòng 3 ngày để đảm bảo vết mổ không bị nhiễm trùng. Kháng sinh dự phòng trong phẫu thuật nên được dùng trước khi rạch da khoảng 30 phút để đạt nồng độ phù hợp trong mô.
Sẹo sau nâng ngực phụ thuộc vào đường mổ, cơ địa, kỹ thuật phẫu thuật, chăm sóc vết thương và quá trình lành thương. Một số nguyên nhân khiến sẹo xấu gồm đường rạch không phù hợp, tổn thương mô nhiều, căng kéo vùng da, chăm sóc hậu phẫu không đúng, cơ địa dễ hình thành sẹo hoặc quá trình lành thương không thuận lợi. Việc lựa chọn đường mổ, thao tác phẫu thuật nhẹ nhàng, kiểm soát mô tốt và chăm sóc vết thương sau mổ đúng hướng dẫn là những yếu tố giúp hạn chế sẹo.
Sau khi đóng vết thương, khách hàng có thể được điều trị sẹo dự phòng theo phác đồ chuyên gia để đảm bảo sẹo sau phẫu thuật nhìn thẩm mỹ hơn. Ngoài ra, các yếu tố như hạn chế tổn thương mô, hạn chế chảy máu, hạn chế tiết dịch, lành thương nhanh và chăm sóc sau mổ đúng hướng dẫn cũng hỗ trợ giảm nguy cơ sẹo xấu.
Các trường hợp nên cân nhắc tháo túi ngực gồm nâng ngực trên 5 năm, đặc biệt là túi nhám; túi vỡ; bao xơ; tụt túi; cứng túi; túi nước biển; thông khe; lộ túi; túi chảy về phía xương vai; túi ngực quá lớn so với cơ thể; hoặc có nguy cơ bệnh lý liên quan đến túi ngực. Tháo túi ngực là phẫu thuật cần gây mê toàn thân nên cần được thực hiện bởi bác sĩ có chuyên môn về bệnh lý và thẩm mỹ, tại cơ sở y tế phù hợp, sau khi đã kiểm tra tình trạng túi, tuyến vú, pocket, bao xơ và các bất thường đi kèm.
Người đã đặt túi trên 5 năm cần kiểm tra thẻ bảo hành túi, thương hiệu, chất liệu túi (túi nhám, túi gel), size túi gồm đường kính và độ nhô, thời gian bảo hành. Đồng thời cần xác định rõ loại túi đang sử dụng, đặc biệt lưu ý các dòng túi như túi Allergan, túi nhám sản xuất theo cơ chế đông muối, túi không rõ nguồn gốc hoặc túi không đạt chứng nhận an toàn từ các tổ chức khoa học và y khoa. Ngoài ra, cần xem túi có nằm trong danh sách cần tháo hoặc theo dõi đặc biệt của các tổ chức khoa học và y khoa uy tín hay không. Trước phẫu thuật, người bệnh cần chụp MRI nhũ chuyên sâu để kiểm tra tuyến vú, tình trạng túi như gấp túi hoặc vỡ túi, kích thước pocket dày mỏng bất thường, các bệnh lý liên quan đến túi và các tổn thương nghi ngờ. Nếu có mô xơ bất thường, có thể cần xét nghiệm tế bào hoặc mô bệnh học.
Quy trình tháo túi ngực gồm chụp MRI chuyên sâu về nhũ để kiểm tra tuyến vú, túi ngực, pocket và bệnh lý liên quan đến túi; tầm soát nguy cơ ung thư và tổn thương liên quan đến túi; khám lâm sàng để lên phương án phẫu thuật, xử lý biến chứng đi kèm như bao xơ, vỡ túi, tụt túi, thông khe và chỉ định có đặt lại túi mới hay không; làm xét nghiệm trước phẫu thuật tại bệnh viện đa khoa chuyên sâu. Trong phẫu thuật, bác sĩ rạch da khoảng 3–3,5 cm ở đường quầng vú hoặc chân ngực nếu không có bất thường, dùng dao siêu âm cắt mô vào bên trong, lấy túi ngực cũ, kiểm tra thương hiệu, kích thước, size túi và độ nhô. Với túi vỡ hoặc có dịch bất thường, ê-kíp vệ sinh khoang, cấy dịch và làm kháng sinh đồ khi dịch đục.
Ca tháo túi ngực thông thường kéo dài khoảng 30–45 phút. Với những ca khó như bóc bao xơ, tạo lại khoang đặt túi, vỡ túi hoặc có tổn thương bất thường bên trong, thời gian gây mê sẽ dài hơn. Trường hợp tháo túi và đặt lại thông thường có thể về trong ngày. Trường hợp tháo túi có bất thường như bóc bao xơ hoặc tổn thương nhiều bên trong có thể cần dẫn lưu và nghỉ tại bệnh viện một đêm. Với các ca phù hợp sử dụng dao siêu âm thế hệ mới, khách hàng có thể xuất viện sau 8–10 tiếng theo quy định của bệnh viện đa khoa.
Việc đặt lại túi mới sau tháo túi cần theo chỉ định của bác sĩ. Với trường hợp tháo túi vỡ, có bất thường trong pocket, có u, bao xơ hoặc tổn thương đi kèm, bác sĩ cần đánh giá trước khi quyết định. Một số trường hợp tháo túi vỡ có bất thường không được đặt lại túi mới ngay. Nếu đặt lại túi mới, bác sĩ cần đánh giá độ rộng – hẹp của khoang cũ, tình trạng khoang rộng cần khâu khoang hay khoang thiếu cần tạo hình khoang mới, đồng thời kiểm tra kích thước, độ nhô túi cũ, tình trạng pocket sau tháo túi và cấu trúc xương lồng ngực hiện tại.
Người lớn tuổi hoặc người có bệnh lý nền cần được đánh giá kỹ trước phẫu thuật tháo túi ngực. Phương án phẫu thuật nên ưu tiên ít xâm lấn, thời gian mổ ngắn, hạn chế tổn thương, hạn chế chảy máu, tiết dịch và hỗ trợ hồi phục nhanh. Với các ca phù hợp, mê mask thanh quản kết hợp phẫu tích điểm bằng dao siêu âm có thể giúp người bệnh tỉnh nhanh, giảm buồn nôn, ói sau thoát mê, hồi phục nhanh hơn và hạn chế dùng thêm thuốc giảm đau hay kháng sinh sau mổ.
Khi tháo và hạ size túi ngực sau một thời gian nâng ngực, cần phân biệt loại túi cũ, kiểm tra tình trạng túi, pocket, bao xơ, mô tuyến vú và các bất thường nếu có. Sau thời gian đặt túi, cấu trúc giải phẫu và độ co giãn da có thể thay đổi, nên khi hạ size cần đánh giá độ co giãn da để chọn size túi mới phù hợp. Bác sĩ cũng cần kiểm tra tình trạng xương lồng ngực sau khi tháo túi, vì khi còn túi cũ có thể khó xác định chính xác lồng ngực lồi, lõm hoặc bất thường.
Nhu cầu hạ size túi ngực có thể xuất hiện sau một thời gian nâng ngực khi khách hàng muốn thay đổi kích thước túi, chỉnh lại dáng ngực, xử lý túi cũ hoặc điều chỉnh khoang đặt túi. Trước khi hạ size, cần kiểm tra loại túi cũ, size túi, độ nhô, tình trạng pocket, bao xơ, mô tuyến vú, độ co giãn da và cấu trúc xương lồng ngực. Khi đặt lại túi mới với size nhỏ hơn, bác sĩ cần đánh giá khoang cũ có rộng hay thiếu, có cần khâu khoang hoặc tạo hình khoang mới không, để túi mới nằm đúng vị trí và hạn chế biến chứng sau chỉnh sửa.
Khi tháo túi và đặt lại túi mới, bác sĩ cần kiểm tra lại khoang cũ sau khi lấy túi ra. Nếu khoang cũ quá rộng, cần khâu khoang để kiểm soát lại vị trí túi. Nếu khoang thiếu, cần tạo hình khoang mới để túi mới nằm đúng vị trí. Đồng thời cần đánh giá kích thước, độ nhô của túi cũ, tình trạng pocket, mô tuyến vú, mô xơ bất thường và cấu trúc xương lồng ngực hiện tại. Việc chỉnh khoang giúp hạn chế tình trạng túi chạy trong khoang, túi lật, nằm sai vị trí, tụt túi, thông khe hoặc cứng túi sau khi đặt lại.
Khi chọn size túi mới sau tháo túi, bác sĩ cần kiểm tra kích thước, độ nhô của túi cũ, tình trạng pocket sau tháo túi, độ rộng – hẹp của khoang đặt túi, mô tuyến vú, độ co giãn da và cấu trúc xương lồng ngực hiện tại. Sau thời gian đặt túi, cấu trúc giải phẫu và độ co giãn da có thể thay đổi. Vì vậy, size túi mới cần được lựa chọn dựa trên tình trạng mô và khoang thực tế sau khi tháo túi, không chỉ dựa vào mong muốn tăng hoặc giảm size.
Mê mask thanh quản trong tháo túi và thay túi ngực là phương pháp gây mê đưa thuốc mê vào và duy trì qua một mask chuyên dụng gọi là mask thanh quản. Phương pháp này giúp người bệnh khỏe hơn, tỉnh nhanh, giảm buồn nôn, ói sau thoát mê, ít gây tổn thương thanh quản và tránh được các biến chứng của gây mê bằng ống nội khí quản. Mê mask thanh quản phù hợp với những phẫu thuật ít xâm lấn, ít gây tổn thương, thời gian ngắn và không sử dụng thuốc giãn cơ.
Mê mask thanh quản thường không sử dụng thuốc giãn cơ. Nhờ đó, phẫu thuật viên có thể đánh giá lại khoang đặt túi hiện tại, áp lực trong khoang thừa hay thiếu, vị trí cơ, mức độ siết/co giãn và độ xơ hóa của cơ ngực. Với gây mê nội khí quản có sử dụng thuốc giãn cơ, bác sĩ có thể khó đánh giá độ siết cơ và độ co giãn cơ sau khi thoát mê, vì khi hết thuốc, tình trạng cơ trở về bình thường.
Mê mask thanh quản có thể được lựa chọn trong các ca tháo và thay túi ngực không có bất thường cần can thiệp nhiều và thời gian mổ không kéo dài quá, ngoại trừ các trường hợp bao xơ độ 4. Để ê-kíp gây mê đồng ý chuyển từ gây mê nội khí quản sang mask thanh quản, phẫu thuật viên phải đạt các yếu tố như ca phẫu thuật nhanh, ít tổn thương, ít xâm lấn và không tác động quá nhiều lên cơ ngực.
Khi kết hợp mê mask thanh quản với phẫu tích điểm bằng dao siêu âm, ca tháo túi ngực thông thường có thể còn 15–30 phút. Ca phẫu thuật kèm chỉnh sửa khoang và thay túi có thể kéo dài 30–60 phút. Các trường hợp bóc tách, điều chỉnh áp lực trong khoang với độ chính xác cao khi không sử dụng thuốc giãn cơ có thể hồi phục nhanh, xuất viện trong 4–6 tiếng và không dùng thêm thuốc giảm đau hay kháng sinh sau mổ.
Thu gọn ngực, hay tạo hình cắt ngực từ nữ sang nam, là phương pháp thẩm mỹ giúp loại bỏ mô, tuyến và da thừa. Kỹ thuật này khá tương đồng với tạo hình ngực sa trễ vạt T. Dù có lợi ích về tạo hình, phẫu thuật thu gọn ngực vẫn có nguy cơ biến chứng như chảy máu, tụ dịch, nhiễm trùng, hoại tử, mất cảm giác hoặc tê kéo dài và sẹo xấu.
Các biến chứng cần lưu ý sau thu gọn ngực gồm tụ máu, nhiễm trùng, hoại tử quầng núm vú, mất cảm giác vùng ngực và đầu ti, sẹo xấu. Tụ máu có thể xảy ra ngay sau phẫu thuật nếu quá trình cầm máu không tốt. Nếu lượng máu chảy ra ít, cơ thể có thể tự hấp thu. Nếu lượng máu lớn, tình trạng tụ máu có thể gây sưng, đau, bầm tím, giảm khả năng tưới máu, tăng nguy cơ nhiễm trùng, viêm kéo dài, ảnh hưởng đến sự sống của vạt da và gây biến dạng ngực sau phẫu thuật.
Vú là cơ quan gồm da, mỡ, nhu mô tuyến và mô đệm. Các động mạch vú lớn nhất không hoàn toàn đi theo hệ thống ống tuyến mà tạo thành một đám rối ở lớp mô mỡ phía trước. Vì vậy, phẫu thuật thu gọn ngực thường chảy máu nhiều hơn so với phẫu thuật nâng ngực thông thường.
Trong phẫu thuật thu gọn ngực, dao siêu âm thế hệ mới Ultrasonic Surgical Scalpel được dùng để bóc tách mô, cắt giảm tuyến vú, cầm máu và kiểm soát chảy máu, hạn chế tiết dịch gần như hoàn toàn với độ chính xác cao. Ứng dụng dao siêu âm trong thu gọn ngực được ghi nhận giúp giảm đau sau mổ, có thể xuất viện trong ngày, không dùng thuốc giảm đau sau mổ, lành thương, sẹo đẹp và mềm hơn so với dao đốt điện.
Trước phẫu thuật thu gọn ngực cần kiểm tra các xét nghiệm loại trừ bệnh lý như bệnh đông máu và tăng huyết áp, đồng thời ngưng thuốc chống đông và một số loại thuốc thảo dược theo chỉ định. Để giảm rủi ro, phẫu thuật thu gọn ngực nên thực hiện tại bệnh viện được Bộ Y tế cấp phép, ưu tiên bệnh viện đa chuyên khoa để đảm bảo an toàn.
Tái sa trễ là tình trạng ngực chảy xệ trở lại sau phẫu thuật thẩm mỹ ngực. Nguyên nhân chính là chỉ định chưa chuẩn xác phương án phẫu thuật cho khách hàng. Nhiều trường hợp ngực tái sa trễ không còn da lành, mô xơ chai, tuyến vú mất thể tích quá nhiều, mất cân đối phức hợp quầng núm vú về vị trí, độ lớn, chiều dài và vị trí sẹo của lần mổ trước, gây khó khăn cho điều trị tạo hình lần tiếp theo.
Điều trị ngực tái sa trễ có thể khó hơn vì mô xơ sẹo cứng và kém đàn hồi, sẹo lan rộng, thiếu mô và da vùng ngực để tạo hình ngực có đặt túi, đồng thời khó tái phân bổ vị trí mô tuyến vú. Mô xơ sẹo có thể làm giảm độ đàn hồi và tính đồng bộ trong co giãn của da và mô dưới da, khiến việc định hình ngực khó khăn hơn, tăng nguy cơ thiếu máu nuôi, xơ hóa hoặc hoại tử mô trong phẫu thuật.
Với ngực sa trễ độ 1,2, dấu hiệu có thể là núm vú nằm ngang hoặc thấp hơn 1–2 cm so với chân ngực khi đứng trước gương, thả lỏng hai tay và không mặc áo ngực. Với nhóm này, có thể chỉ cần chọn phương án phẫu thuật đặt túi ngực và không can thiệp thêm. Kỹ thuật Dual Plane II phù hợp với người muốn cải thiện hình dạng, kích thước ngực và giải quyết sa trễ độ 1,2.
Với ngực sa trễ độ 3,4, người bệnh cần tự đánh giá mô tuyến hiện tại, độ co giãn da và màu sắc vết rạn. Nếu mô tuyến nhiều hoặc ít, da lỏng lẻo, nhiều vết rạn vùng ngực sau sinh, thuộc cơ địa dễ sa trễ và da mất đàn hồi, có thể lựa chọn phương án tạo hình ngực bảo tồn mô tuyến vú không đặt túi ngực. Trường hợp mô tuyến ít, da còn độ co giãn tốt, ngực sa trễ độ 3 theo trục dọc, có thể lựa chọn đặt túi ngực và thu quầng vú. Tuy nhiên, nên thực hiện trong hai lần phẫu thuật khác nhau để tránh tạo lực căng lên đường mổ và tăng nguy cơ sẹo xấu.
Trường hợp có u vú cần được bác sĩ đánh giá tình trạng u trước khi quyết định đặt túi ngực. Với u diệp thể có kích thước lớn và đang lớn nhanh trong thời gian ngắn, bác sĩ khuyên nên bóc trọn u vì khả năng u sẽ càng ngày càng lớn hơn. Nếu người bệnh mong muốn bóc u kích thước lớn như u diệp thể kết hợp đặt túi ngực, nên lựa chọn bác sĩ có chuyên khoa bệnh lý lành – ác tính và bác sĩ thẩm mỹ để đảm bảo an toàn và thẩm mỹ trong một ca phẫu thuật.
U diệp thể là một loại u lành tính, không phải ung thư, nằm trong tuyến vú. U thường phát triển nhanh, có thể to lên trong vài tuần hoặc vài tháng, không có triệu chứng đau rõ. Khi sờ có thể cảm nhận khối tròn, nhiều thùy, giới hạn khá rõ, chắc hơi cứng và di động.
Quy trình có thể gồm ba bước: dùng dao siêu âm tạo hình khoang đặt túi qua đường chân ngực; bóc u diệp thể qua vết mổ tạo khoang đặt túi hoặc tại vị trí khối u trên bầu ngực; sau khi bóc u, đánh giá vị trí phân bổ, mức độ lão hóa, sự xơ chai của mô tuyến, độ co giãn da và cấu trúc xương lồng ngực để lựa chọn size túi có kích thước và độ nhô phù hợp. Khi tạo hình khoang đặt túi trước, bác sĩ có thể đánh giá khả năng bóc u qua cùng vết mổ tạo khoang đặt túi, hạn chế có hai đường mổ. Khối u sau khi bóc được gửi làm giải phẫu bệnh.
Dao siêu âm sử dụng sóng siêu âm theo cơ chế đốt – hàn – cắt, giúp cầm máu hiệu quả, giảm chảy máu trong và sau mổ, đặc biệt với khối u có nhiều mạch máu. Nhiệt sinh ra thấp hơn so với dao điện, giúp hạn chế tổn thương mô xung quanh và giảm nguy cơ hoại tử. Dao siêu âm tích hợp cắt và cầm máu, giúp rút ngắn thời gian mổ, giảm đau sau mổ, phục hồi nhanh hơn và tạo vết mổ thẩm mỹ hơn.
Tái tạo vú là phẫu thuật tạo lại vú sau phẫu thuật ung thư vú. Phẫu thuật tái tạo vú cần được thực hiện bởi bác sĩ có chuyên môn về bệnh lý ung thư vú và tạo hình thẩm mỹ chuyên sâu về vú để đảm bảo an toàn và thẩm mỹ.
Các phương pháp tái tạo vú phù hợp với phụ nữ châu Á hiện nay gồm đặt túi nâng ngực, ghép mỡ tự thân, vạt tự thân hoặc kết hợp tùy từng trường hợp. Tái tạo vú có sử dụng túi ngực có thể thực hiện ngay tại thời điểm cắt bỏ vú, gọi là tái tạo tức thì, hoặc thực hiện sau khi phác đồ điều trị ung thư vú hoàn thành, gọi là tái tạo thì hai. Tái tạo vú bằng mô tự thân sử dụng mô từ nơi khác trong cơ thể, có thể gồm da, mỡ, mạch máu và đôi khi là cơ. Vị trí lấy mô tự thân thường từ bụng hoặc lưng, có thể lấy từ đùi hoặc mông.
Các vạt từ vùng lưng và bụng gồm vạt DIEP, vạt LD, vạt SIEA và vạt TRAM. Vạt DIEP lấy mô từ bụng và chỉ chứa da, mỡ, mạch máu, không bao gồm cơ bên dưới. Vạt LD lấy mô từ vùng giữa bên của lưng và là vạt ghép cuống mạch được giữ lại trong quá trình tái tạo vú. Vạt SIEA lấy mô từ bụng như vạt DIEP nhưng khác về mạch máu nuôi khi ghép. Vạt TRAM lấy mô từ vùng bụng dưới như vạt DIEP nhưng bao gồm cơ, có thể là vạt ghép tự do hoặc vạt có cuống mạch được giữ lại. Vạt từ đùi hoặc mông được dùng cho người đã từng phẫu thuật vùng bụng trước đó, có bệnh lý liên quan đến bụng hoặc không có đủ mô bụng để tái tạo vú. Các vạt này gồm IGAP và PAP.
Phẫu thuật đặt túi nâng ngực bằng dao siêu âm Harmonic cho bệnh nhân đã điều trị ung thư vú có thể giúp hạn chế đau sau mổ, hạn chế chảy máu, tiết dịch, giảm nguy cơ bao xơ, hỗ trợ lành thương và phục hồi nhanh. Dao siêu âm Harmonic, Ligasure hoạt động theo cơ chế đốt – hàn – cắt với nhiệt lượng thấp, ít tổn thương mô, có khả năng cầm máu ngay lập tức. Khoang đặt túi ít chảy máu và dịch bạch huyết giúp giảm đau sau mổ và giảm nguy cơ bao xơ.
Trước phẫu thuật nâng ngực nói riêng và phẫu thuật thẩm mỹ nói chung, khách hàng nên ngưng dùng thực phẩm chức năng ít nhất 2 tuần. Việc này đặc biệt cần lưu ý với các sản phẩm có nguy cơ ảnh hưởng đến quá trình chảy máu, đông máu hoặc tương tác với thuốc gây mê. Khách hàng cần trao đổi trực tiếp và đầy đủ với bác sĩ phẫu thuật, bác sĩ khám tiền mê về tất cả thực phẩm chức năng đã và đang sử dụng, gồm thông tin sản phẩm, thời gian dùng và liều lượng.
Sử dụng thực phẩm chức năng trong thời gian dài có thể ảnh hưởng đến quá trình phẫu thuật và sự lành thương sau mổ. Một số sản phẩm làm mô ngậm nhiều nước, mô nhão, gây khó khăn cho phẫu thuật viên khi bóc tách tạo khoang đặt túi. Mô ướt làm tăng nguy cơ chảy máu. Mô nhão gây khó khăn trong cầm máu. Nếu phẫu thuật viên không đánh giá được tình trạng mô ướt, mô nhão để có phương án phẫu thuật và chăm sóc sau mổ phù hợp, nguy cơ tụ dịch có thể tăng.
Các sản phẩm thực phẩm chức năng và collagen cần được báo với bác sĩ trước phẫu thuật. Nhiều thành phần như tỏi, ginkgo biloba, nghệ hoặc echinacea có thể làm tăng nguy cơ xuất huyết hoặc tương tác với thuốc chống đông, ngay cả khi các chỉ số đông máu cơ bản vẫn trong giới hạn bình thường. Collagen có đặc tính giữ nước mạnh, có thể gây phù nề mô, mềm nhão mô liên kết, làm tăng phức tạp trong bóc tách mô và kiểm soát chảy máu trong mổ. Một số sản phẩm collagen còn bổ sung hyaluronic acid, vitamin C hoặc glutathione, là các thành phần hút nước mạnh, làm tăng nguy cơ giữ nước trong mô.
Tạo hình thành bụng sau sinh là phẫu thuật xử lý da dư, mỡ thừa và tình trạng giãn cơ thành bụng sau sinh. Phương pháp này phù hợp với phụ nữ có da dư và mỡ thừa nhiều sau sinh, đặc biệt sau sinh đôi, sinh ba, thai nhi có trọng lượng lớn hoặc tăng cân nhiều sau sinh. Tạo hình thành bụng sau sinh có thể chia thành hai loại: tạo hình thành bụng không dời rốn và tạo hình thành bụng có dời rốn.
Bụng chảy xệ sau sinh có thể liên quan đến hiện tượng giãn cơ thành bụng, đặc biệt ở trường hợp sinh đôi, sinh ba, thai nhi quá lớn hoặc phụ nữ tăng cân nhiều sau sinh. Một số trường hợp cần nhiều thời gian và chế độ tập luyện nghiêm ngặt mới lấy lại vóc dáng. Khi da dư, mỡ thừa và giãn cơ thành bụng không cải thiện như mong muốn, phẫu thuật tạo hình thành bụng có thể được cân nhắc sau thăm khám.
Quy trình tạo hình thành bụng có thể gồm các bước: hút một phần mỡ thừa thành bụng dưới, có thể kèm vùng bụng trên hoặc vùng eo; rạch một đường ngang cong theo nếp lằn da trên xương mu; dùng dao Harmonic bóc tách lớp mỡ ra khỏi lớp cân bụng; cắt da và mỡ thừa dưới rốn ở mức phù hợp để tránh căng quá mức sau phẫu thuật. Sau đó, bác sĩ khâu và thắt chặt các cơ bụng bị chùng hoặc tách rời, loại bỏ mỡ thừa, cắt da thừa, định vị lại rốn với ca tạo hình thành bụng có dời rốn và khâu đóng vết thương.
Dao Harmonic giúp bóc tách lớp mỡ ra khỏi lớp cân cơ thành bụng trước, hạn chế chảy máu và hạn chế tiết dịch, từ đó giảm nguy cơ tụ dịch, nhiễm trùng và chậm lành vết thương sau mổ. Dao Harmonic hoạt động theo cơ chế đốt – hàn – cắt với nhiệt lượng ổn định, giúp giải phóng lớp mỡ khỏi lớp cân cơ thành bụng và bảo tồn mạng mạch lymphatic trong lớp mạc cân cơ.
Dao đốt thường không có khả năng hàn dịch bạch huyết sau mổ tốt như dao Harmonic, khả năng cầm máu không tốt bằng dao Harmonic và có thể gây phỏng mô. Sau mổ, tình trạng tiết dịch và đau có thể nhiều hơn. Dao Harmonic giúp bảo tồn lớp mạc giữa mỡ và cân cơ thành bụng. Trong lớp mạc có nhiều mạch bạch huyết, nếu không bảo tồn tốt, nguy cơ tiết dịch, tụ dịch thành bụng, chậm lành vết thương và nhiễm trùng sau mổ có thể tăng.
Sau phẫu thuật tạo hình thành bụng bằng dao Harmonic, thời gian đặt dẫn lưu có thể khoảng 24–48 giờ. Với phương pháp thông thường, thời gian đặt dẫn lưu có thể dài hơn. Trường hợp dùng dao Harmonic ít phải đặt ống dẫn lưu hơn, ngoại trừ những ca hút mỡ nhiều.
Tạo hình thành bụng là một cuộc phẫu thuật lớn, có thể gặp các biến chứng như chảy máu, tụ dịch, nhiễm trùng, hoại tử da, sẹo xấu, mất cảm giác vùng da bụng hoặc vết thương chậm lành. Nguy cơ biến chứng có thể tăng nếu phẫu thuật không kiểm soát tốt chảy máu, không bảo tồn lớp mạc, bóc tách mô nhiều, hoặc người bệnh có bệnh lý đi kèm chưa được đánh giá đầy đủ trước mổ.
Tụ dịch sau tạo hình thành bụng có thể liên quan đến việc không bảo tồn tốt lớp mạc cân cơ thành bụng, nơi có nhiều mạch bạch huyết. Khi mạch bạch huyết bị tổn thương nhiều, dịch có thể tiết ra nhiều hơn sau phẫu thuật. Dao Harmonic giúp bóc tách lớp mỡ khỏi lớp cân cơ thành bụng, hạn chế chảy máu, hạn chế tiết dịch và giảm nguy cơ seroma thành bụng.
Tạo hình thành bụng có thể kết hợp điều trị bệnh lý thoát vị thành bụng khi người bệnh có da dư, mỡ thừa, giãn cơ thành bụng và kèm thoát vị thành bụng cần xử lý trong cùng một cuộc phẫu thuật. Trước phẫu thuật, người bệnh cần được thăm khám, đánh giá thành bụng, mức độ giãn cơ, tình trạng thoát vị và các yếu tố nguy cơ liên quan.
Phẫu thuật cần xử lý đồng thời yếu tố thẩm mỹ và yếu tố bệnh lý. Bác sĩ cần đánh giá cấu trúc thành bụng, vùng thoát vị, mô mỡ, da dư và mức độ giãn cơ để lập kế hoạch phẫu thuật phù hợp. Cơ sở thực hiện cần đảm bảo điều kiện phẫu thuật, gây mê, hồi sức và khả năng xử lý biến chứng nếu có.
Người từng phẫu thuật đại tràng cần được đánh giá kỹ trước khi tạo hình thành bụng. Vết mổ cũ, mô sẹo, tình trạng dính mô, thành bụng và bệnh lý đi kèm có thể ảnh hưởng đến phương án phẫu thuật. Bác sĩ cần xem xét tiền sử phẫu thuật, tình trạng thành bụng, khả năng lành thương và các nguy cơ trong quá trình bóc tách mô.
Phẫu thuật vùng bụng trước đó có thể để lại sẹo, mô dính và thay đổi cấu trúc thành bụng. Khi tạo hình thành bụng, những yếu tố này có thể làm tăng độ khó của bóc tách mô và xử lý da dư, mỡ thừa. Đánh giá kỹ trước mổ giúp bác sĩ lựa chọn đường mổ, mức độ bóc tách, phương án xử lý da – mỡ – cơ thành bụng và kế hoạch chăm sóc hậu phẫu phù hợp.
Người trung niên và lớn tuổi có thể cân nhắc tạo hình thành bụng khi có da dư, mỡ thừa, giãn cơ thành bụng hoặc biến dạng thành bụng ảnh hưởng sinh hoạt và thẩm mỹ. Trước phẫu thuật cần đánh giá sức khỏe tổng quát, bệnh lý nền, tình trạng da – mỡ – cơ thành bụng và khả năng hồi phục. Nhóm người lớn tuổi cần được kiểm tra kỹ hơn về tim mạch, huyết áp, hô hấp, đông máu, đường huyết và các bệnh lý đang điều trị.
Kế hoạch phẫu thuật cần ưu tiên an toàn, hạn chế xâm lấn quá mức, kiểm soát chảy máu, kiểm soát đau và theo dõi sát sau mổ. Người bệnh cần cung cấp đầy đủ thuốc đang dùng, bệnh lý nền và tiền sử phẫu thuật trước đó. Ca phẫu thuật nên được thực hiện tại cơ sở có điều kiện gây mê, hồi sức và xử lý biến chứng.
Tạo hình thành bụng và nâng ngực có thể được cân nhắc cùng lúc trong một số trường hợp phù hợp, nhưng cần đánh giá kỹ thời gian phẫu thuật, mức độ xâm lấn, tình trạng sức khỏe, khả năng hồi phục và nguy cơ biến chứng. Nếu ca phẫu thuật kéo dài, can thiệp nhiều vùng, mất máu nhiều hoặc người bệnh có bệnh lý nền, việc thực hiện cùng lúc có thể làm tăng nguy cơ trong và sau mổ.
Không nên kết hợp khi sức khỏe tổng quát chưa đảm bảo, có bệnh lý nền chưa kiểm soát tốt, nguy cơ gây mê cao, mô vùng phẫu thuật cần can thiệp nhiều hoặc thời gian phẫu thuật dự kiến kéo dài. Phẫu thuật phối hợp cần được bác sĩ đánh giá trực tiếp và thực hiện tại cơ sở đủ điều kiện phẫu thuật – gây mê – hồi sức.
Cắt mí mắt là phương pháp tạo nếp mí rõ hơn bằng cách can thiệp vào vùng da, mỡ, cơ vòng mi và cơ nâng mi. Phương pháp này phù hợp với người có mí trên dày, da vùng mí mắt trên dày, mắt tuổi trung niên da chùng nhão, bao túi mỡ lỏng lẻo, hệ thống cơ nâng mi yếu, từng cắt mí hỏng, có sẹo xơ sau thẩm mỹ hoặc độ mở mắt nhỏ. Mục tiêu là tạo nếp mí rõ nhưng tự nhiên, xử lý da dư – mỡ thừa, điều chỉnh sự gắn kết của hệ thống cơ nâng mi – sụn mi và cải thiện các hậu quả sau nhấn mí hoặc cắt mí hỏng.
Nhấn mí và cắt mí đều có mục đích tạo nếp mí rõ ràng. Nhấn mí phù hợp với người trẻ, mắt không có da dư, mí lót, mắt nhiều nếp mí, da mắt mỏng, không quá nhiều mỡ và cấu trúc mắt nguyên bản chưa thẩm mỹ. Nhấn mí là phương pháp không phẫu thuật, chỉ tác động vào cơ vòng mi và da. Cắt mí can thiệp vào da, mỡ, cơ vòng mi và cơ nâng mi, phù hợp với các trường hợp có da dư, mỡ thừa, sẹo xơ hoặc từng can thiệp mí hỏng.
Một ca cắt mí đẹp cần tạo nếp mí rõ nhưng tự nhiên, loại bỏ được sẹo cũ nếu có, xử lý da dư và mỡ thừa phù hợp, điều chỉnh sự gắn kết giữa cơ nâng mi và sụn mi, giúp mắt linh hoạt và có thần thái hài hòa với chân mày, hốc mắt và toàn bộ gương mặt. Kết quả thẩm mỹ không chỉ nằm ở nếp mí to hay rõ, mà còn ở sự cân đối, độ mở mắt, khả năng biểu cảm và cảm giác tự nhiên của đôi mắt.
Cắt mí hoặc nhấn mí hỏng có thể gây nhiễm trùng, viêm phù nề, khô mắt, chảy nước mắt sống, cộm mắt, ngứa mắt, mí mắt không đều, mắt trợn, mắt lờ đờ, mắt vô hồn, cơ nâng mi yếu, mí không linh hoạt và sẹo ở nếp mí xấu, lộ rõ. Một số trường hợp mí mắt không có sự kết nối về cảm xúc và thần thái với chân mày, hốc mắt và gương mặt, ảnh hưởng tâm lý và khiến người làm đẹp mất tự tin.
Hồn mắt có thể bị thay đổi khi nếp mí không hài hòa với cấu trúc ổ mắt, chân mày, cơ nâng mi và toàn bộ gương mặt. Mắt có thể trở nên trợn, buồn, trống rỗng, lờ đờ hoặc mất cảm xúc nếu can thiệp sai chỉ định, lấy da – mỡ quá mức hoặc xử lý cơ nâng mi không phù hợp. Khi mí mắt không còn linh hoạt, biểu cảm vùng mắt cũng bị ảnh hưởng, khiến khuôn mặt thiếu tự nhiên.
Cắt mí và nhấn mí cần hiểu cấu trúc giải phẫu vùng ổ mắt, da mí, mỡ mí, cơ vòng mi, cơ nâng mi và sụn mi. Khi thực hiện tại cơ sở không đủ điều kiện, thiếu vô khuẩn, thiếu chuyên môn hoặc sai chỉ định, nguy cơ nhiễm trùng, sẹo xấu, mí lệch, mắt trợn, khô mắt và biến dạng mí có thể tăng. Trước khi can thiệp, cần được thăm khám để xác định nên nhấn mí hay cắt mí, mức độ da dư – mỡ thừa, tình trạng cơ nâng mi và tiền sử can thiệp mí trước đó.
Cần thăm khám khi mí không đều, mắt trợn, mắt lờ đờ, mí không linh hoạt, sẹo nếp mí xấu và lộ rõ, khô mắt, chảy nước mắt sống, cộm mắt, đau kéo dài hoặc mắt mất sự hài hòa với gương mặt. Các trường hợp đã từng cắt mí hỏng hoặc có sẹo xơ sau thẩm mỹ cần được đánh giá kỹ cấu trúc ổ mắt, da mí, mỡ mí, cơ nâng mi và mô sẹo trước khi chỉnh sửa.
Chỉnh sửa mí hỏng cần xác định nguyên nhân làm mắt hỏng: da dư hoặc lấy da quá mức, mỡ mí xử lý chưa phù hợp, sẹo xơ, cơ nâng mi yếu, nếp mí không cân đối hoặc mắt bị trợn. Phương án chỉnh sửa phụ thuộc vào cấu trúc giải phẫu hiện tại và mô sẹo sau lần can thiệp trước. Can thiệp lại quá sớm hoặc không đánh giá đúng mô sẹo có thể khiến kết quả chỉnh sửa khó kiểm soát hơn.
Thẩm mỹ vùng kín sau sinh là nhóm phương pháp giúp cải thiện kích thước, hình dáng, sự đàn hồi và cảm giác tại vùng âm đạo – âm hộ sau sinh. Sau sinh, cấu trúc âm đạo và nội tiết tố có nhiều thay đổi như âm đạo chùng nhão, lỏng lẻo, rộng, mất độ đàn hồi, thay đổi cấu trúc đường viền, thành trước và thành sau âm đạo suy yếu, không đạt mong muốn trong đời sống tình dục.
Các phương pháp phẫu thuật vùng kín gồm tạo hình môi bé, tạo hình môi lớn, thu hẹp âm đạo và trẻ hóa vùng kín. Mục tiêu của phẫu thuật thẩm mỹ vùng kín là khôi phục cảm giác âm đạo săn chắc hơn, cải thiện sự hài lòng về tình dục cho phụ nữ và bạn tình.
Các biến chứng có thể gặp sau thẩm mỹ vùng kín gồm nhiễm trùng, chảy máu, tụ máu vùng phẫu thuật, đau nhiều sau mổ, bục chỉ khâu, són tiểu, đau kéo dài khi quan hệ, khô âm đạo, mất cảm giác khi quan hệ, viêm nhiễm gây ngứa, có mùi hôi, đau rát khi quan hệ, sẹo xấu, tổn thương niệu đạo, thủng trực tràng và rò trực tràng – âm đạo. Kết quả không như kỳ vọng có thể khiến người bệnh mặc cảm, tự ti, sợ quan hệ và ảnh hưởng đời sống chăn gối.
Nhiễm trùng sau phẫu thuật thường xuất hiện từ ngày thứ 3 đến ngày thứ 7 sau mổ, một số trường hợp có thể phát hiện muộn hơn. Dấu hiệu có thể gồm ăn không ngon, lạt miệng, sốt, đau nhức dai dẳng, đỏ hoặc sưng tấy vùng kín. Khi có các biểu hiện này, cần thăm khám sớm với bác sĩ chuyên khoa.
Thu hẹp âm đạo có thể gặp các biến chứng như nhiễm trùng, đau kéo dài, chảy máu, bục chỉ, sẹo xấu, hẹp quá mức, đau khi quan hệ, giảm cảm giác, tổn thương niệu đạo, tổn thương trực tràng hoặc rò trực tràng – âm đạo. Phẫu thuật cần được thực hiện bởi bác sĩ có chuyên môn và kinh nghiệm, vì sai kỹ thuật và sai phương pháp có thể dẫn đến biến chứng không mong muốn.
Quy trình thẩm mỹ vùng kín cần bắt đầu bằng thăm khám và đánh giá tình trạng âm đạo – âm hộ, mức độ chùng nhão, độ rộng, độ đàn hồi, tình trạng mô, sẹo sau sinh và các vấn đề kèm theo như són tiểu, đau khi quan hệ hoặc viêm nhiễm. Sau khi xác định phương pháp phù hợp, bác sĩ thực hiện phẫu thuật theo chỉ định như thu hẹp âm đạo, tạo hình môi bé, môi lớn hoặc trẻ hóa vùng kín. Sau mổ, người bệnh cần được hướng dẫn chăm sóc vết thương, vệ sinh, theo dõi đau, chảy máu, nhiễm trùng và lịch tái khám.
Có thể cân nhắc khi vùng kín chùng nhão, lỏng lẻo, rộng, mất độ đàn hồi, thay đổi hình dáng, môi bé hoặc môi lớn gây khó chịu trong sinh hoạt, hoặc cảm giác âm đạo không còn như mong muốn sau sinh. Trước khi quyết định phẫu thuật, cần thăm khám để loại trừ viêm nhiễm, đánh giá cấu trúc âm đạo – âm hộ và chọn phương pháp phù hợp.
Sau phẫu thuật, cần giữ vùng phẫu thuật sạch, khô, chăm sóc vết thương theo hướng dẫn, dùng thuốc theo chỉ định, tái khám đúng lịch và theo dõi các dấu hiệu bất thường như sốt, đau tăng, đỏ, sưng, chảy máu, tiết dịch bất thường hoặc có mùi hôi. Người bệnh cần hạn chế các hoạt động có thể tạo áp lực lên vùng phẫu thuật trong thời gian đầu và chỉ sinh hoạt trở lại theo hướng dẫn của bác sĩ.
Cần đi khám lại khi có sốt, đau nhức dai dẳng, đỏ hoặc sưng tấy vùng kín, chảy máu, tụ máu, bục chỉ, tiết dịch bất thường, ngứa, mùi hôi, đau rát kéo dài hoặc đau khi quan hệ. Các dấu hiệu này có thể liên quan đến nhiễm trùng, viêm nhiễm, vết thương lành không thuận lợi hoặc biến chứng sau phẫu thuật.
Tạo hình môi bé là phẫu thuật chỉnh sửa hình dáng môi bé khi vùng này phì đại, mất cân đối, gây khó chịu trong sinh hoạt hoặc ảnh hưởng thẩm mỹ vùng kín. Phương pháp cần được chỉ định sau thăm khám để đánh giá hình dạng môi bé, độ dư mô, tình trạng sẹo, viêm nhiễm và mong muốn của người bệnh.
Trẻ hóa vùng kín bằng phẫu thuật cần xác định đúng vấn đề cần xử lý: âm đạo rộng, giảm đàn hồi, môi bé phì đại, môi lớn thay đổi hình dáng, sẹo sau sinh hoặc rối loạn cảm giác. Phẫu thuật cần được thực hiện bởi bác sĩ có chuyên môn và kinh nghiệm để hạn chế các biến chứng như nhiễm trùng, đau kéo dài, sẹo xấu, mất cảm giác, tổn thương niệu đạo hoặc trực tràng.